Từ hạt gạo nuôi quân đến thương hiệu gạo Việt trên thế giới

80 năm qua, ngành lương thực đã đồng hành cùng dân tộc, từ những hũ gạo sẻ chia thời kháng chiến đến những chuyến tàu gạo mang thương hiệu Việt đi khắp năm châu.

Trong không khí trang trọng của ngày khai mạc Triển lãm thành tựu đất nước kỷ niệm 80 năm Quốc khánh (2/9/1945 - 2/9/2025), gian trưng bày của Tổng Công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1) trở thành điểm dừng chân đặc biệt, níu chân người tham quan bằng cả ký ức và hiện tại.

Bà Bùi Thị Thanh Tâm, Chủ tịch HĐTV Vinafood 1, tại Triển lãm thành tựu đất nước kỷ niệm 80 năm Quốc khánh. Ảnh: PH.

Bà Bùi Thị Thanh Tâm, Chủ tịch HĐTV Vinafood 1, tại Triển lãm thành tựu đất nước kỷ niệm 80 năm Quốc khánh. Ảnh: PH.

Nhìn lại hành trình hơn một thập kỷ qua, Vinafood 1 đã khẳng định sự tăng trưởng bền vững, không chỉ ở sản lượng mà còn ở giá trị hạt gạo. Giai đoạn 2011 - 2015, doanh nghiệp đạt 4,188 triệu tấn với kim ngạch 1,62 tỷ USD; sang giai đoạn 2016 - 2020, dù sản lượng giảm xuống còn 3,679 triệu tấn, kim ngạch vẫn giữ nguyên, cho thấy bước chuyển từ “nhiều” sang “tinh”. Đặc biệt, trong giai đoạn 2021 - 2025, sản lượng dự kiến vươn tới 5,22 triệu tấn với kim ngạch 2,71 tỷ USD, minh chứng cho chiến lược tăng trưởng mạnh mẽ cả về lượng lẫn chất.

Không chỉ dừng ở con số, hành trình ấy còn mở rộng cánh cửa thị trường. Từ châu Á quen thuộc như Philippines, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, Hàn Quốc, gạo Việt của Vinafood 1 đã vươn xa đến châu Phi, châu Mỹ, châu Âu, chinh phục cả những thị trường khó tính như Anh, Đức, Thụy Sĩ. Vinafood 1 vì thế trở thành doanh nghiệp chủ lực trong xuất khẩu gạo quốc gia, góp phần đưa Việt Nam từ vị trí “đủ ăn” đến vị thế quốc gia có hạt gạo uy tín trên bản đồ lương thực thế giới.

Nhìn lại hành trình hơn một thập kỷ qua, Vinafood 1 đã khẳng định sự tăng trưởng bền vững, không chỉ ở sản lượng mà còn ở giá trị hạt gạo. Ảnh: PH.

Nhìn lại hành trình hơn một thập kỷ qua, Vinafood 1 đã khẳng định sự tăng trưởng bền vững, không chỉ ở sản lượng mà còn ở giá trị hạt gạo. Ảnh: PH.

Hạt gạo trắng ngần được nâng niu trong từng sản phẩm hôm nay như mang trong mình câu chuyện dài 8 thập kỷ về hành trình nuôi dưỡng dân tộc. Trong ánh sáng rực rỡ của Triển lãm, giữa dòng người háo hức, ký ức về những năm tháng gian khó lại ùa về. Bởi để có ngày hôm nay, để hạt gạo Việt đi ra thế giới, ngành lương thực đã bước qua những ngày đen tối nhất, khi nạn đói 1945 cướp đi sinh mạng của hàng triệu người. Chính từ tro tàn bi kịch ấy, ý chí “không để dân ta thiếu ăn” đã trở thành mệnh lệnh của lịch sử, hun đúc sức mạnh cho một ngành gắn chặt với vận mệnh dân tộc.

Hạt gạo cứu đói, nuôi kháng chiến trong những ngày đầu dựng nước

Sau buổi bình minh độc lập năm 1945, đất nước ta vừa bước ra khỏi ách nô lệ thì lập tức đối diện với muôn vàn hiểm họa. Trong Diễn văn ngày 2/9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng cũng chính Người sớm nhận thấy ba thứ giặc đang đe dọa sự tồn vong của dân tộc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Không phải ngẫu nhiên, Người đặt giặc đói lên hàng đầu. Bởi ngay trước đó, nạn đói năm 1945 đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu rưỡi đồng bào ta, một vết thương đau đớn còn in hằn trong ký ức lịch sử.

Nạn đói năm 1945 đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu rưỡi đồng bào ta. Ảnh tư liệu.

Nạn đói năm 1945 đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu rưỡi đồng bào ta. Ảnh tư liệu.

Bằng tấm lòng lo cho dân, Bác đã phát động phong trào “Hũ gạo kháng chiến”, tự mình nêu gương mỗi bữa bớt một nắm gạo để chia cho người nghèo. Từ hành động giản dị mà vĩ đại ấy, hàng triệu gia đình đã tự nguyện góp gạo, góp thóc, góp công sức, cùng nhau vượt qua cái đói. Chính trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, một tổ chức để lo cái ăn cho dân, để giữ lấy sự sống và sức mạnh của kháng chiến, đã dần thành hình - đặt nền móng cho ngành lương thực sau này.

Và rồi, trên những con đường đất đỏ, hàng vạn lượt dân công gùi, thồ, gánh gạo bằng đôi vai trần, bằng xe thồ, ngựa thồ, vượt núi băng rừng, tiếp tế cho các chiến dịch. Hình ảnh những đoàn dân công áo nâu, vai oằn gánh thóc, đã in dấu trong ký ức Điện Biên Phủ. Hạt gạo từ hậu phương đã góp phần làm nên chiến thắng chấn động địa cầu, giải phóng miền Bắc, mở ra thời kỳ mới cho dân tộc. Đằng sau thắng lợi ấy, không thể không nhắc tới vai trò thầm lặng nhưng quyết định của Sở Kho thóc Trung ương và các chi sở địa phương, những nơi giữ gìn, phân phối, tổ chức lương thực cho cả kháng chiến.

Giai đoạn 1955 - 1975, miền Bắc trở thành hậu phương lớn, gồng mình trong khói bom của chiến tranh phá hoại để lo cho miền Nam ruột thịt. Ảnh tư liệu.

Giai đoạn 1955 - 1975, miền Bắc trở thành hậu phương lớn, gồng mình trong khói bom của chiến tranh phá hoại để lo cho miền Nam ruột thịt. Ảnh tư liệu.

Khi bước sang giai đoạn 1955 - 1975, miền Bắc trở thành hậu phương lớn, gồng mình trong khói bom của chiến tranh phá hoại để lo cho miền Nam ruột thịt. Tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” đã trở thành mệnh lệnh từ trái tim mỗi người dân. Những khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Năm tấn thóc để góp phần đánh Mỹ” không chỉ là lời hô hào, mà là sự thật hiển hiện trong từng thửa ruộng, từng sân phơi, từng hầm kho.

Các cán bộ, công nhân ngành lương thực đã bám sát đồng ruộng, gom góp từng cân thóc thuế nông nghiệp, lo xay xát, đóng gói, vận chuyển bằng mọi cách. Có lúc, gạo được gói kín, thả trôi theo dòng sông, suối để tránh bom đạn kẻ thù. Có lúc, những chuyến xe ngựa, chuyến thuyền mộc âm thầm vượt qua mưa bom bão đạn, đưa hạt gạo ra chiến trường. Không ít người trong số họ đã hy sinh ngay trên đường chi viện, máu thấm vào bao tải thóc, thân xác gửi lại chiến trường. Sự hy sinh ấy đã làm nên truyền thống bi tráng, tô thắm thêm ngọn cờ của ngành lương thực trong lịch sử dân tộc.

Hành trình khẳng định vị thế từ bao cấp đến hội nhập

 

Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, cả dân tộc bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn. Kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh, đất nước phải đối diện với muôn vàn thử thách. Trong bức tranh đó, ngành lương thực lại một lần nữa gánh vác trọng trách nặng nề: lo cái ăn cho dân. Những năm bao cấp, với chế độ tem phiếu, sổ gạo, những quy định như “tối thiểu 13, tối đa 17kg lương thực mỗi tháng cho mỗi đầu người”, đã đi vào ký ức của nhiều thế hệ. Đó là thời kỳ mà từng hạt gạo đều được tính toán, cân đong cẩn trọng, để cân đối cung - cầu trong bối cảnh nhập khẩu hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu tấn lương thực mỗi năm. Gian khổ là thế, nhưng chính từ những tháng ngày ấy, ý chí vượt khó, tinh thần “cắn răng chịu đựng để giữ vững độc lập tự do” đã tôi luyện cả dân tộc, trong đó có những người làm lương thực.

Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, cả dân tộc bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn. Ảnh tư liệu.

Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, cả dân tộc bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn. Ảnh tư liệu.

Đổi mới từ Đại hội VI của Đảng đã mở ra trang mới. Từ cơ chế bao cấp, đất nước chuyển mình mạnh mẽ sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngành lương thực cũng buộc phải “tồn tại hay không tồn tại” trong cơ chế mới: không chỉ cung cấp một loại gạo duy nhất, mà phải đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường, từ giá cả đến chất lượng.

Trong bối cảnh ấy, năm 1995, Tổng Công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1) chính thức được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở tổ chức lại các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty Lương thực Trung ương I và các doanh nghiệp địa phương từ Thừa Thiên - Huế trở ra. Vinafood 1 ra đời với sứ mệnh không chỉ kinh doanh, mà còn giữ vững an ninh lương thực quốc gia.

Hai mươi năm đầu xây dựng, phát triển là chặng đường đầy gian khó nhưng cũng giàu tự hào. Vốn chủ sở hữu ban đầu chưa đến 200 tỷ đồng, lại gánh gần 100 tỷ đồng công nợ khó đòi, nhưng Vinafood 1 đã từng bước vượt lên, bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước, trở thành doanh nghiệp hạng đặc biệt. Doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, thu nhập người lao động… đều tăng trưởng ổn định qua từng năm. Cơ sở vật chất, kho tàng, hệ thống xay xát, chế biến không ngừng được đầu tư mở rộng, không chỉ ở miền Bắc mà còn vươn đến cả Đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa lớn nhất cả nước. Đến năm 2010, Vinafood 1 chính thức chuyển đổi mô hình thành Công ty TNHH MTV do Nhà nước sở hữu 100%, đánh dấu bước ngoặt quan trọng về pháp lý và quản trị.

Từ một nước đói ăn, đến nay, Việt Nam đã vươn mình trở thành một cường quốc xuất khẩu gạo. Ảnh: Lam Anh.

Từ một nước đói ăn, đến nay, Việt Nam đã vươn mình trở thành một cường quốc xuất khẩu gạo. Ảnh: Lam Anh.

Với tầm nhìn chiến lược, ngay từ những năm 1990, khi nước ta bắt đầu mở cửa nền kinh tế, Vinafood 1 đã hợp tác thành lập doanh nghiệp liên doanh đầu tiên với tập đoàn ngũ cốc hàng đầu của Malaysia. Sự phát triển và hiệu quả cao của liên doanh này là sự khích lệ to lớn cho định hướng hội nhập và hợp tác quốc tế.

Từ đó, Vinafood 1 lần lượt ra đời hai liên doanh xuất khẩu gạo với các đối tác Iraq và Singapore. Đến thời điểm hiện nay, sự thành công và dẫn đầu thị trường của các liên doanh này không chỉ kiến tạo nền tảng chế biến ngũ cốc hiện đại trong nước, mà còn mở rộng chuỗi giá trị xuất khẩu gạo Việt Nam ra toàn cầu.

Bên cạnh việc phát , Vinafood 1 đã chủ động hội nhập, tham gia vào các chuỗi cung ứng, xây dựng hệ thống phân phối - bán lẻ từ siêu thị, trung tâm thương mại đến cửa hàng tiện ích, từng bước đưa hoạt động thương mại lương thực lên một tầm cao mới. Không dừng lại ở đó, doanh nghiệp còn đồng hành với các chương trình xóa đói giảm nghèo, xây trường, làm đường, góp phần cải thiện đời sống nhân dân vùng khó khăn - như một cách tri ân và tiếp nối truyền thống “lo cái ăn cho dân” từ những ngày đầu dựng nước. Hành trình đó đã được ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước trao tặng, cũng như sự tin tưởng của nhân dân.

Ngày nay, bước sang giai đoạn mới, Vinafood 1 không chỉ dừng lại ở “cơm ăn, áo mặc” mà đang vươn tới những giá trị cao hơn - “ăn ngon, mặc đẹp”, “ăn sạch, ăn xanh”. Đó là sự kế thừa và phát triển tất yếu, để mỗi hạt gạo Việt Nam không chỉ nuôi sống dân tộc, mà còn góp phần nâng tầm vị thế Việt Nam trên bản đồ lương thực thế giới.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính (giữa) trao đổi với bà Bùi Thị Thanh Tâm và đại diện các doanh nghiệp tại Hội nghị Thường trực Chính phủ gặp mặt đầu xuân các doanh nghiệp nhà nước tiêu biểu trên toàn quốc ngày 3/3/2024. Ảnh: Vinafood 1.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính (giữa) trao đổi với bà Bùi Thị Thanh Tâm và đại diện các doanh nghiệp tại Hội nghị Thường trực Chính phủ gặp mặt đầu xuân các doanh nghiệp nhà nước tiêu biểu trên toàn quốc ngày 3/3/2024. Ảnh: Vinafood 1.

Từ những gian khó năm xưa, hôm nay Vinafood 1 đã vươn lên trở thành một trong những doanh nghiệp chủ lực của ngành lương thực Việt Nam. Mỗi năm, Vinafood 1 tiêu thụ bình quân từ 1,6 triệu tấn đến 2 triệu tấn gạo tấn gạo, trong đó  từ 1 triệu đến 1,5 triệu tấn triệu tấn xuất khẩu, đưa hạt gạo Việt đến với hàng chục quốc gia từ châu Á, châu Phi đến Trung Đông. Không chỉ giữ vững thị trường truyền thống, doanh nghiệp còn từng bước mở rộng sang những thị trường mới, nâng cao giá trị và thương hiệu của gạo Việt trên trường quốc tế.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, Vinafood 1 không chỉ gắn bó với nhiệm vụ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn mang trên vai trọng trách đồng hành cùng người nông dân, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp bền vững, xây dựng chuỗi giá trị khép kín, nâng tầm hạt gạo Việt.

Triển lãm thành tựu 80 năm đất nước chính là dịp để Vinafood 1 tự hào nhìn lại chặng đường đã đi qua, đồng thời khẳng định quyết tâm bước vào giai đoạn mới - nơi mỗi hạt gạo không chỉ nuôi sống con người mà còn chuyên chở niềm tin và khát vọng của một dân tộc vươn lên mạnh mẽ.

Trong suốt 80 năm qua, ngành lương thực và nông nghiệp Việt Nam đã vượt qua nhiều giai đoạn gian khó để vươn lên mạnh mẽ: từ cảnh nạn đói chồng chất năm 1945 đến tự chủ lương thực, rồi vươn tới vị thế quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Nhờ chính sách Đổi Mới, cơ giới hóa và khoa học kỹ thuật, năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm không ngừng cải thiện. Đặc biệt, năm 2024 đánh dấu cột mốc bứt phá với tổng kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thủy sản đạt mức kỷ lục 62,5 tỷ USD, trong đó riêng xuất khẩu gạo đạt 5,7 tỷ USD (tương ứng 9,04 triệu tấn). Thành công này không chỉ nâng cao cuộc sống người nông dân mà còn khẳng định vị thế Việt Nam mạnh mẽ trên bản đồ lương thực toàn cầu.

 

Phạm Hiếu - Theo Báo Nông nghiệp và Môi trường

Các tin khác

Lượt truy cập: 5114245
Đặt làm trang chủLên đầu trang